vvvvvvvvvv

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Hình ảnh hoạt động

TP-Hoabinh

Liên kết Website

Lịch

Tháng 7 2017
CTTTTTT
1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031

Hoc tap va lam theo tam guong bac

Số liệu kinh tế xã hội

Giai đoạn 2011-2015 là giai đoạn có nhiều biến động lớn ảnh hưỏng đến phát triển kinh tế thành phố. Kinh tế - xã hội diễn ra trong bối cảnh kinh tế suy giảm; lạm phát, giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và lãi suất tín dụng tăng cao; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp tác đông, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự nỗ lực cố gắng của chính quyền địa phương và nhân dân thành phố Hòa Bình, tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố Hoà Bình thời gian qua vẫn tăng trưởng ở mức khá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 12,5%/năm (năm 2015 đạt 13,4%). Cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng (đến năm 2015 dịch vụ: 55,1%; công nghiệp - xây dựng: 38,7%; nông, lâm, thuỷ sản 6,2%). Thu nhập bình quân đầu người đạt 40 triệu đồng/người/năm. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 9,4%/năm.

LĨNH VỰC KINH TẾ

Ngành dịch vụ.

Ngành thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ (giá thực tế) đạt 5.101 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với năm 2010, tăng 1,3 lần so với mục tiêu Đại hội đề ra. Hiện trên địa bàn thành phố có 355 doanh nghiệp với 4.566 lao động hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Hoàn thành chuyển đổi mô hình quản lý chợ Thái Bình. Công tác quản lý thị trường, kiểm tra liên ngành được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh phát triển và ngăn chặn sản xuất kinh doanh hàng giả, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Các ngành dịch vụ phát triển khá mạnh về quy mô và loại hình. Dịch vụ vận tải tăng cường chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa. Mạng lưới bưu chính - viễn thông phát triển nhanh, hiện đại. Hoạt động ngân hàng, quỹ tín dụng duy trì mức tăng trưởng khá. Hệ thống khách sạn, nhà nghi, một số điểm du lịch tiếp tục được đầu tư; các cơ sở lưutrú được mở rộng, số lượng khách du lịch tăng bình quân 10%/năm; thu nhập từ ngành du lịch tăng trưởng bình quân khoảng 4%/năm.

 

Ngành công nghiệp - xây dựng.

 

Giá tri tăng thêm công nghiệp - xây dựng tăng khá (Năm 2015 đạt 1.461,2 tỷ đồng, tăng 1,9 lần so với thực hiện năm 2010).

Trong 5 năm, Khu công nghiệp bờ trái Sông Đà đã thu hút được thêm 4 dự án đầu tư, nâng tổng số lên 19 dự án, diện tích đất đã có dự án sản xuất đạt 61%; tổng vốn đầu tư thực hiện 34,3 triệu USD và 287,54 tỷ đồng; thu hút trên 3.500 lao động; nộp ngân sách tỉnh trên 81 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt trên 323 triệu USD. Hằng năm, khu vực đầu tư nước ngoài đạt doanh thu xuất khẩu khoảng trên 20 triệu USD, khu vực đầu tư trong nước đạt doanh thu khoảng 300 tỷ đồng.

 

Ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.

 

Tích cực chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá; phát huy lợi thế từng vùng, từng loại đồng ruộng, diện tích ao hồ, đất lâm nghiệp; đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao giá trị thu nhập và hiệu quả trên diện tích canh tác. Đã hình thành một số vùng sản xuất rau tập trung, đảm bảo được 50% nhu cầu rau xanh của thành phố. Mô hình chăn nuôi trang trại từng bước được nhân rộng; phát triển mạnh nuôi cá lồng trên lòng hồ Sông Đà. Công tác phòng, chống dịch bệnh được chỉ đạo thực hiện tốt, không xảy ra dịch bệnh lớn. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định. Diện tích rừng được khoanh nuôi, bảo vệ, kế hoạch trồng mới rừng hàng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu, năm 2015 độ che phủ rừng đạt 39,8% (theo công thức tính mới).

 

Công tác xây dựng nông thôn mới.

 

Triển khai thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới thành phố Hòa Bình giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động; triển khai thực hiện quy hoạch, lồng ghép các chương trình và huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đến nay, diện mạo nông thôn đã thay đổi rõ rệt, đời sống nông dân được cải thiện, thu nhập bình quân đạt 30,5 triệu đồng/người/năm; cơ cấu lao động nông thôn có sự chuyển dịch, tăng lao động ngành dịch vụ, giảm lao động ngành nông nghiệp. Đến năm 2015, đã có 3 xã được công nhận Xã đạt chuẩn nông thôn mới”; 4 xã còn lại đạt từ 12-16 tiêu chí. Công tác khuyến nông được quan tâm thực hiện bằng nguồn kinh phí khuyến khích phát triển kinh tế và các dự án hàng năm; tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

 

Tài chính ngân sách.

Năm 2015, đạt 252,1 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với thực hiện năm 2010. Một số khoản thu chủ yếu như thu ngoài quốc doanh và thu tiền sử dụng đất đạt mức tăng trưởng cao. Thu ngân sách địa phương thực hiện bình quân khoảng 385 tỷ đồng/năm. Chi ngân sách địa phương trong những năm qua đã tăng đều từ 258,5 tỷ đồng năm 2010 lên 469,8 tỷ đồng năm 2015 (tăng 81,7%), cơ bản đáp ứng nhu cầu chi thực hiện các nhiệm vụ chính trị của thành phố, đảm bảo chi thường xuyên và tăng chi đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí từ ngân sách; áp dụng các cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập tạo sự chủ động, công khai, minh bạch. Mức độ đảm bảo chi thường xuyên đạt khoảng 40%.

Tín dụng.

 

Khu vực ngân hàng: Tốc độ tăng trưởng vốn huy động bình quân khoảng 15%/năm; Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân khoảng 13%/năm. Đối với 2 quỹ tín dụng nhân dân: tốc độ tăng trưởng vốn huy động bình quân khoảng 22,4%/năm; Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân khoảng 15%/năm.

Thu hút đầu tư.

Từ năm 2011 đến nay trên địa bàn thành phố có 28 dự án được cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2.752,9 tỷ đồng (trong đó: lĩnh vực hạ tầng đô thị nhà ở 13 dự án, lĩnh vực công nghiệp 9 dự án, lĩnh vực đào tạo 01 dự án, dịch vụ - thương mại 5 dự án).Các dự án tại Khu công nghiệp bờ trái sông Đà: hiện có 19 dự án được cấp phép đầu tư(có 3 dự án có 100% vốn đầu tư nước ngoài)trong đó: 13 dự án hoạt động bình thường, 2 dự án đang thực hiện xây dựng cơ bản, 02 dự án tạm ngừng hoạt động; 02 dự án chưa thực hiện. Thu nhập bình quân/ lao động trong KCN khoảng 33 triệu đồng/năm. Trong năm 2015, có 7 dự án chấm dứt hiệu lực và 7 dự án được gia hạn nghiên cứu, khảo sát. Thành phố đã rà soát và trình tỉnh 12 danh mục dự án thu hút đầu tư trên địa bàn, trong đó: lĩnh vực môi trường 01 dự án, thương mại 4 dự án; công nghiệp - TTCN 3 dự án; lĩnh vực nông nghiệp 3 dự án; nh vực văn hóa 01 dự án.

Phát triển các thành phần kinh tế.

 

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “tiếp tục đổi mới, phát huy và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, thành phố đã quan tâm củng cố, phát triển đa dạng kinh tế hợp tác xã và tổ hợp tác. Một số Hợp tác xã nông nghiệp từng bước ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm gắn với thị trường tiêu thụ, tăng hiệu quả kinh tế góp phần vào xây dựng nông thôn mới. Hợp tác xã hoạt động dịch vụ vận tải ổn định và làm ăn có lãi, đóng góp vào Ngân sách Nhà nước và tạo việc làm ổn định cho xã viên. Hiện trên địa bàn thành phố Hòa Bình có 18 hợp tác xã được cấp đăng ký kinh doanh. Trong 5 năm, NSNN hỗ trợ phát triển sản xuất cho bà con xã viên thông qua chương trình XDNTM khoảng trên 1 tỷ đồng. Thực hiện rà soát, đôn đốc các HTX thực hiện tổ chức lại và chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX năm 2012, đã thực hiện cấp giấy chứng nhận HTX theo Luật HTX mới 8/17 HTX trong đó có 3 HTX nông nghiệp và 5 HTX vận tải. Phối hợp với tỉnh thực hiện giao cho HTX quản lý các công trình dịch vụ công; thực hiện cấp 1.582 lượt giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ cá thể; số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới là 327 doanh nghiệp. Thành phố cũng đã quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp thông qua cải cách thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng. Hàng năm, các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 80 tỷ đồng/năm, giải quyết việc làm thêm cho trên 3.000 lao động.

 

Công tác khuyến khích phát triển kỉnh tế.

 

Hàng năm thành phố đều dành nguồn kinh phí cho công tác khuyến khích phát triển kinh tế, trực tiếp hỗ trợ một phần kinh phí cho người sản xuất khi thực hiện các mô hình điểm. Trong 5 năm đã triển khai thực hiện 45 mô hình, dự án; tổ chức 211 lớp dạy nghề chuyển giao kỹ thuật cho 9.123 người với tổng kinh phí trên 1.700 tiệu đồng.

 

Công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư phát triển toàn xã hội.

 

Công tác giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư những năm qua có nhiều cố gắng đảm bảo tiến độ thực hiện một số công trình, dự án quan trọng; kịp thời bàn giao cho chủ đầu tư và các đơn vị thi công để triển khai thực hiện. Từ năm 2011, thành phố đã và đang thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 60 công trình, dự án; số hộ dân và các cơ quan, đơn vị phải bồi thường khoảng trên 3.000 đối tượng. Đã phê duyệt 119 phương án bồi thường, hỗ trợ và tái dịnh cư với tổng số tiền khoảng 147 tỷ đồng; bàn giao mặt bằng cho 28 dự án với 19,6 ha đất các loại. Trong 5 năm, tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từ nguồn NSNN đạt trên 1.650 tỷ đồng; cơ cấu vốn đầu tư hợp lý. Đã thu hút và đang triển khai thực hiện dự án thoát nước, xử lý nước thải và dự án Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - thành phố Hòa Bình từ nguồn vốn đầu tư ODA với trên 1.280 tỷ đồng. Nhiều công trình có ý nghĩa thay đổi diện mạo đô thị của thành phố đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng như: đường Thịnh Lang, đường Trương Hán Siêu, đường Chi Lăng kéo dài, đường Trần Quý Cáp, biểu tượng thành phố Hòa Binh...; hệ thống vỉa hè, đường ngõ xóm được chỉnh trang. Thành phố đã thực hiện đề án cứng hóa đường giao thông với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm được 37,2 km đường giao thông vói tổng kinh phí trên 12 tỳ đồng. Hệ thông điện, cấp nước được chú trọng cải tạo, sửa chữa, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường mở rộng; bệnh viện đa khoa thành phố được đầu tư xây mới; các trạm y tế phường, xã được cải tạo, nâng cấp, đầu tư trang thiết bị theo hướng đạt chuần quốc gia về y tế; các thiết chế văn hóa từng bước được xây đựng. Quan tâm chỉ đạo kiên cố hóa các công trình thủy lợi, đặc biệt là hồ, đập, kênh mương, đảm bảo cơ bản đủ nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp.

 

Thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA, NGO.

 

-  Dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thành phố Hòa Bình nguồn vốn ODA Cộng hòa Liên bang Đức (tổng mức đầu tư 23,579 triệu EURO - nguồn vốn ODA của Đức): Hiện đang triển khai xong giai đoạn đấu thầu thi công xây lắp với gói thầu số 1, thương thảo và ký hợp đồng xây lắp với các gói thầu từ sổ 2-6.

-  Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - Thành phố Hòa Bình (tổng mức đầu tư 32,5 triệu USD - nguồn vốn ODA của WB): UBND thành phố đã phối hợp thực hiện cơ bản xong giai đoạn chuẩn bị dự án do Sở Kế hoạch và Đầu tư là chủ đầu tư.

+ Giai đoạn 1: Nâng cấp một số đường khu vực Chăm Mát (Lý Thường Kiệt, Bà Triệu, Võ Thị Sáu, Lương Thế Vinh, Hoàng Hoa Thám) và Lê Thánh Tông.

+ Giai đoạn 2: Nâng cấp đường Hòa Bình và Xây dựng cầu Hòa Bình 3 và đường dẫn.

Hiện đang triển khai thi công xâỵ lắp tuyến đường Lương Thế Vinh; các tuyến còn lại đang đánh giá hồ sơ dự thầu và hoàn thiện hồ sơ kiểm kê giải phóng mặt bằng. Riêng gói thầu cầu Hòa Bình 3 và đường dẫn đã hoàn thành hồ sơ thiết kế chi tiết và dự toán công trình.

Trên địa bàn thành phố đang thực hiện 01 dự án phi chính phủ nước ngoài (GNI - Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư là 135.000 USD. Giai đoạn 1 được triển khai tại phường Thịnh Lang, Thái Bình và được mở rộng ra các xã Thống Nhất và Dân Chủ với các hoạt động: hỗ trợ trang thiết bị trường mầm non và tiểu học, hỗ trợ học sinh nghèo, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hỗ trợ tiền ăn trưa. Giai đoạn 1 giải ngân với tổng kinh phí là 3.730 triệu đồng. Hiện đang thực hiện giai đoạn 2 từ năm 2014, đã giải ngân được 219,6 triệu đồng.

 

Công tác quản lý và quy hoạch phát triển đô thị.

 

Đã triển khai lập, trình phê duyệt và tổ chức thực hiện các đồ án quy hoạch, trong đó có những đồ án quan trọng như: Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hòa Bình đến năm 2025; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến 2020; quy hoạch sử dụng đất thành phố Hòa Bình đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2011- 2015; quy hoạch cải tạo, san hạ mặt bằng và quản lý các điểm mỏ khai thác đất trên địa bàn thành phố đến năm 2020, xét đến năm 2025; hoàn thành quy hoạch nông thôn mới 7/7 xã. Tổ chức công bố, công khai các đồ án quy hoạch đã được phê duyệt; tiến hành cắm mốc giới tại thực địa theo quy định để ngưòi dân, các tổ chức và doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát thực hiện theo quy hoạch. Đã công bố Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thành phố. Xây dựng Chương trình phát triển đô thị thành phố Hòa Bình.

 

Công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng, trật tự an toàn giao thông.

 

Thành phố đã thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thực hiện tốt việc đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính. Tiến hành thanh tra, kiểm tra, qua đó đã kịp thời xử lý các tập thể, cá nhân vi phạm liên quan đến quản lý, sử dụng đất trên địa bàn thành phố. Công tác thẩm tra, thẩm định thiết kế các công trình xây dụng; thực hiện công khai các thủ tục hành chính tại cơ sở và cấp giấy phép xây dựng cho các tổ chức, cá nhân đảm bảo thời gian, đúng quy định; tăng cường kiểm tra, giám sát quản lý chất lượng về xây đựng, kiểm tra sau cấp phép và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng.

Thường xuyên tuần tra, kiểm soát giữ gìn trật tự đô thị, trật tự an toàn giao thông. Tập trung giải tỏa lòng đường, vỉa hè, họp chợ, đỗ đậu xe sai quy định kết hợp tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phổ biến Quy chế quản lý đô thị. Tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn có chiều hướng giảm dần qua các năm trên cả 3 tiêu chí, trật tự đô thị và mỹ quan đô thị được đảm bảo.

 

Xây dựng nếp sống văn minh đô thị.

 

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TH.Ư về thực hiện nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011-2015 và phương hướng đến năm 2020; UBND thành phố xây dựng kế hoạch hành động số 694/KH-UBND “Vì môi trường xanh, sạch, đẹp văn minh”. Tập trung chỉnh trang đô thị, quản lý trật tự vỉa hè, lòng đường; xây dựng ý thức văn minh trong sản xuất, kinh doanh và nếp sống văn minh đô thị. Hoạt động bảo vệ môi trường được quan tâm: trong 5 năm đã xác nhận 118 cam kết, đề án bảo vệ môi trường; xử triệt để 4 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tỷ lệ thu gom, vận chuyến rác thải đến khu xử lý đạt trên 85%. Tỷ lệ che phủ cây xanh đất ở đô thị đạt 3,5%. vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường về cơ bản đã được giải quyết, các cơ sở sản xuất kinh doanh đều được lập cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường; đã hoàn thiện Đề án điều tra, đánh giá hiện trạng rác thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải nguy hại trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh. Tiến hành gắn biển tên đường, ngõ, ngách và biển số nhà đợt 1 cho các cơ quan, đơn vị, các hộ nhân dân trên địa bàn thành phố.

 

LĨNH VỰC VĂN HÓA – XÃ HỘI.

 

Lĩnh vực văn hoá - xã hội được quan tâm lãnh đạo thực hiện. Một số chỉ tiêu đã đạt và vượt so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra: 100% hộ dân sử dụng điện sinh hoạt,tỷ lệ tăng dân số tự nhiên < 1%. Có 12/15 phường, xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,13% năm 2011 xuống dưới 1,27% năm 2015. Giải quyết việc làm khoảng 2.500 lao động/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 51%. Có 86% hộ gia đình văn hóa, 73% xóm, tổ dân phố văn hóa. Bình quân giai đoạn mỗi năm có trên 3 trường đạt chuẩn quốc gia.

 

Giáo dục và đào tạo.

 

Quy mô trường, lớp phù hợp, đáp ứng yêu cầu người học; trường chuẩn quốc gia được đầu tư xây dựng: hiện có 43/59 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 72,88% (có 02 trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2); số lớp, số học sinh giữa các trường trung tâm và các trường vùng ven đã dần khắc phục được tình trạng mất cân đối. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp đạt từ 99% -100%. Chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt; số học sinh giỏi các cấp qua các năm đều tăng, số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp THCS đạt tỷ lệ cao. Kết quả phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở được duy trì. Công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, phát triển nguồn nhân lực luôn được quan tâm. Công tác đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức được chú trọng; trong 5 năm đã đào tạo nghề cho 11.784 lao động.

 

Văn hóa, thể thao; truyền thanh, truyền hình.

 

Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phục vụ các ngày lễ lớn và những sự kiện chính trị quan trọng diễn ra trên địa bàn thành phố. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" tiếp tục phát triển, chú trọng nâng cao về chất lượng xây dựng gia đình, xóm tổ, cơ quan, đơn vị, trường học đạt tiêu chuẩn văn hóa. Hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng diễn ra sôi nổi, rộng khắp, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của nhân dân. Thể thao thành tích cao và phong trào luyện tập thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng.

Công tác xã hội hoá hoạt động văn hoá, thể thao được quan tâm. Việc bảo tồn các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể, các di tích lịch sừ, danh lam, thắng cảnh được chú trọng. Tăng cường quản lý nhà nước về các hoạt động, dịch vụ văn hóa trên địa bàn; kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định.

Chất lượng truyền thanh - truyền hình được nâng cao, phục vụ tốt việc tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cổng thông tin điện tử thành phố Hòa Bình đi vào hoạt động đã góp phần đa dạng hóa các hình thức thông tin đến vói người dân.

 

Công tác Y tế - Dân số - Gia đinh và trẻ em.

 

Tập trung phòng chống dịch bệnh, hàng năm khống chế không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra trên địa bàn và không có tử vong do dịch bệnh; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tuyến thành phố và củng cổ tuyến y tế cơ sở; bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Thực hiện tốt các chương trinh mục tiêu quốc gia về y tế. Đẩy mạnh xã hội hoá y tế, hình thành thêm nhiều cơ sở y tế tư nhân, đa dạng hoá các loại hình chăm sóc sức khỏe, góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Củng cố mạng lưới y tế thôn bản, đội ngũ cán bộ y tế tăng cả về số lượng, chất lượng. Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình; phòng chống bạo lực gia đình; vận động nhân dân xây dựng mô hình gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc được tập trung chỉ đạo tuyên truyền; thường xuyên quan tâm tới công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.

 

Khoa học và công nghệ.

 

Hoạt động nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống, sản xuất từng bước được đẩy mạnh; ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng mở rộng trên các lĩnh vực, nhất là trong các trường học, trong công tác quản lý Nhà nước. Tổng kinh phí đầu tư thực hiện các đề tài, dự án, mô hình khoa học - công nghệ đạt 5 tỷ đồng, trong đó ngân sách thành phố hỗ trợ trên 1 tỷ đồng. Đã có 20 lượt hồ sơ hồ sơ tham dự hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Hoà Bình. Chỉ đạo thực hiện 15 mô hình ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực kinh tế, quản lý nhà nước, công tác tồ chức cán bộ, tài chính kế toán...Đã triển khai xong mạng Internet diện rộng các cơ quan Đảng thành phố tới Đảng uỷ 15 phường, xã. Công tác tiêu chuẩn, đo lường chất lượng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ người tiêu dùng, xác lập, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp thường xuyên được triển khai thực hiện.

 

Công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách xã hội.

 

Triển khai có hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo, xây dựng, hỗ trợ làm mới, sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo; tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm qua các năm. Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho ngưòi có thu nhập thấp.

Tập trung đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động. Kết quả giải quyết việc làm hàng năm đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Cơ cấu lao động đã có bước chuyển rõ rệt theo hướng giảm mạnh lao động nông nghiệp nông thôn, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ, đô thị.

Tổ chức tốt các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, hoạt động nhân đạo, từ thiện; chăm lo đối vói người có công, gia đình chính sách. Công tác bảo trợ xã hội được quan tâm. Công tác chi trả chế độ trợ cấp thường xuyên, chế độ BHXH, BHYT bảo đảm kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng.

 

Công tác Dân tộc - Tôn giáo.

 

Triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, Nghị quyết, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; phát huy tốt vai trò người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số như già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ; lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án: Đã triển khai xây dựng 04 công trình nước sinh hoạt hợp vệ sinh với tổng số vốn trên 3 tỷ đồng; đảm bảo nước sinh hoạt phục vụ cho 302 hộ dân với 1692 nhân khẩu. Duy tu, sửa chữa 18 công trình nước sinh hoạt tập trung. Có 430 lượt hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn được hỗ trợ sản xuất và đời sống với tổng số kinh phí 97 triệu đồng.

 

Hoạt động của MTTQ, các đoàn thể và tổ chức hội.

 

Thực hiện đổi mới phương thức hoạt động. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp ngày càng phát huy vai trò tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên; tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước, nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực, góp phần phát triển kinh tế- xã hội, giảm nghèo; tích cực thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật, giúp đỡ nguồn vốn cho các hộ dân phát triển sản xuất, kinh doanh; chăm lo bảo vê quyền lợi hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên. Dân chủ xã hội được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân giám sát các hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, các cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; tham gia giám sát cộng đồng tại địa bàn dân cư. Các cấp uỷ đảng, chính quyền đã chú ý lắng nghe, đối thoại, tiếp thu và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân.

 TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH - TỈNH HÒA BÌNH
Số giấy phép: 104/GP-STTTT, cấp ngày: (10/9/2015) - Chịu trách nhiệm chính:  Nguyễn Thế Dũng Phó Chủ tịch UBND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường Cù Chính Lan, TP Hòa Bình, Tỉnh Hòa Bình - Điện thoại: (02183.856.473) - Fax : (02183.852.258)
Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình (http://ubndtp.hoabinh.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này. 
orjinal cialis