vvvvvvvvvv

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Hình ảnh hoạt động

TP-Hoabinh

Liên kết Website

Lịch

Tháng 9 2020
CTTTTTT
12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930

Hoc tap va lam theo tam guong bac

Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2011-2020; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2021-2025

Thực hiện Kế hoạch số 118/KH-UBND ngày 05/8/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tổng kết thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2016-2020. Ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình báo cáo kết quảthực hiện như sau:

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

Nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác cải cách hành chính (CCHC) theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ, ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020; đồng thời triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 29-KH/TH.U ngày 07/7/2016 của Thành ủy Hòa Bình triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Kế hoạch số 2307/KH-UBND ngày 11/8/2020 về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2016-2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 05). Công tác phổ biến, quán triệt Nghị quyết số 05 được quan tâm thường xuyên, thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành sau:

- Về kế hoạch CCHC: Đã ban hành Quyết định số 166/QĐ-UBND ngày 29/01/2016, kế hoạch Cải cách hành chính thành phố Hòa Bình giai đoạn 2016-2020. Trên cơ sở đó, hằng năm Ủy ban nhân dân thành phố đã xây dựng và ban hành kế hoạch để chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ CCHC trên địa bàn.

- Các văn bản chỉ đạo, điều hành: Đã ban hành Quyết định số 2248/QĐ-UBND ngày 10/8/2016 về Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình; Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 23/02/2017 về Quy chế quản lý và sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố; Quyết định số 648/QĐ-UBND ngày 08/5/2019, Quy định về trách nhiệm công khai xin lỗi của công chức, viên chức khi giải quyết thủ tục hành chính sai sót, quá hạn cho cá nhân, tổ chức trên địa bàn thành phố; Quyết định số 1991/QĐ-UBND ngày 02/7/2019, về việc giao chỉ tiêu hồ sơ được tiếp nhận, giải quyết trực tuyến mức độ 3, 4 cho các cơ quan, đơn vị năm 2019; Kế hoạch số 395/KH-UBND ngày 02/3/2018 về nâng cao Chỉ số cải cách hành chính thành phố Hòa Bình năm 2018 và những năm tiếp theo; Quyết định số 2472/QĐ-UBND ngày 28/8/2019, Quy chế đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm đối với các phòng, ban, đơn vị, Ủy ban nhân dân các phường, xã trên địa bàn; Quyết định số 2778/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 về ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng tháng đối với công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong các cơ quan quan, đơn vị trên địa bàn thành phố Hòa Bình; Kế hoạch số 160/KH-UBND ngày 30/01/2020 về thực hiện “Năm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành trên địa bàn thành phố” và ký cam kết thực hiện nhiệm vụ năm 2020...

- Hằng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đã bố trí kinh phí cho công tác CCHC từ 30 đến 60 triệu/năm (riêng năm 2020 đã bố trí 100.000.000 đồng), Ủy ban nhân dân các phường, xã đã bố trí từ 10 đến 20 triệu đồng/năm; đồng thời đã bố trí kinh phí xây dựng Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại đối với 16/19 phường, xã.

- Ban Chỉ đạo CCHC của thành phố thường xuyên được kiện toàn và phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng thành viên: Quyết định số 1163/QĐ-UBND ngày 22/4/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo CCHC thành phố Hòa Bình; Công văn số 1761/UBND-NV ngày 25/6/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố về phân công theo dõi và chịu trách nhiệm đối với các tiêu chí, tiêu chí thành phần trong Bộ Chỉ số CCHC.

- Công tác theo dõi, đánh giá Chỉ số CCHC của các phường, xã được thực hiện đúng theo quy định. Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Tổ công tác thẩm định hồ sơ tự đánh giá, chấm điểm của các phường, xã (Quyết định số 2113/QĐ-UBND ngày 26/7/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc thành lập Tổ thẩm định Chỉ số CCHC hằng năm đối với Ủy ban nhân dân các phường, xã); Bên cạnh đó, hằng năm đã xây dựng kế hoạch và tổ chức điều tra xác định Chỉ số CCHC và mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các phòng, ban, đơn vị, Ủy ban nhân dân các phường, xã trên địa bàn thành phố (sau đây gọi tắt là các cơ quan, đơn vị). Chỉ số hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố liên tục tăng, giai đoạn 2016-2019 bình quân đạt 89,36% (trong đó, Ủy ban nhân dân thành phố (cũ): Năm 2016 đạt 78,62%, năm 2017 đạt 87,70%, năm 2018 đạt 90,23%, năm 2019 đạt 93,05%, trung bình giai đoạn 2016-2019, đạt 87,4%; Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Sơn (cũ): Năm 2016 là 88 %, năm 2017 là 90%, năm 2018 đạt 93 %, năm 2019 là 94,33%, trung bình giai đoạn 2016-2019, đạt 91,33%).

- Đã triển khai và áp dụng một số mô hình, sáng kiến đem lại hiệu quả trong thực tế. Các mô hình “Tìm hiểu dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trong trường học” của phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố; mô hình “Thành lập tổng đài hành chính công” của Trung tâm Văn hóa, thể thao và truyền thông thành phố.

- Ủy ban nhân dân thành phố đã tổ chức tổng kết phong trào thi đua và biểu dương khen thưởng các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua “Đẩy mạnh CCHC và nâng cao chất lượng công vụ”.Nhiều tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc được biểu dương khen thưởng. Trong giai đoạn 2016-2020, đã có 42 lượt tập thể, 56 lượt cá nhân được khen thưởng, trong đó: Huyện Kỳ Sơn (cũ) 27 tập thể, 37 cá nhân; thành phố Hòa Bình 15 tập thể, 19 cá nhân.

2. Về công tác kiểm tra

- Hằng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành kế hoạch kiểm tra công tác CCHC, công chức, công vụ và tổ chức thực hiện đảm bảo 100% các nội dung theo kế hoạch. Hình thức kiểm tra đã áp dụng những cách làm mới như: Tổ chức kiểm tra đột xuất kết hợp với kiểm tra chuyên đề; lồng ghép nhiều lĩnh vực, nội dung kiểm tra của các cơ quan chuyên môn vào một đợt kiểm tra để giảm số lượng các cuộc kiểm tra, không gây ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của cơ quan, đơn vị được kiểm tra.

- Trong giai đoạn 2016-2019, đã thực hiện 149 cuộc kiểm tra tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn (trong đó: Năm 2016 là 31 cuộc, năm 2017 là 33 cuộc, năm 2018 là 37 cuộc, năm 2019 là 48 cuộc). Kết quả, đã kiến nghị xem xét kiểm điểm trách nhiệm đối với 02 tập thể và 03 cá nhân vi phạm (phòng Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân phường Hữu Nghị trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Ngô Huy Đài); nhắc nhở 07 trường hợp chưa thực hiện nghiêm việc đeo thẻ công chức trong giờ làm việc (Ủy ban nhân dân xã Trung Minh, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố); yêu cầu 01 trường hợp công chức, viên chức công khai xin lỗi người dân, tổ chức bằng văn bản do giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính quá hạn.

3. Về thông tin, tuyên truyền

- Ủy ban nhân dân thành phố luôn quan tâm, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền CCHC.Trang thông tin điện tử thành phố đã xây dựng được 26 tin bài nội dung về các hoạt động, chương trình, cách làm hay, mô hình mới trong công tác cải cách hành chính; Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông đã phát thanh 45 chuyên mục, sản xuất 63 tin, bài, phóng sự tuyên truyền về CCHC; phòng Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch số 191/KH-PGD&ĐT ngày 05/4/2019 về tuyên truyền CCHC ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố năm 2019; Kế hoạch số 176/KH-PGD&ĐT ngày 29/3/2019 về tổ chức tuyên truyền và thi tìm hiểu kiến thức về các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho học sinh cấp Trung học cơ sở năm 2019.

- Chỉ đạo trung tâm Văn hóa, Thể thao và truyền thông, Trang Thông tin điện tử của thành phố, phòng Văn hóa và Thông tin, Uỷ ban nhân dân các phường, xã tích cực tuyên truyền về phong trào thi đua đẩy mạnh CCHC và nâng cao chất lượng công vụ. Phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành uỷ, Liên đoàn lao động, Thành đoàn, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố để tuyên truyền, quán triệt, giới thiệu, chuyển tải các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh, của Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố về cải cách hành chính.

- Công tác tuyên truyền về cải cách hành chính đã được thực hiện bằng nhiều hình thức như: Tổ chức tuyên truyền bằng băng zôn, tờ rơi, tờ gấp; tổ chức các lớp tập huấn, các hội nghị, phóng sự, toạ đàm, phát thanh, truyền hình về cải cách hành chính hằng năm; đưa tin, bài, phóng sự trên sóng phát thanh và truyền hình thành phố và nhất là qua hệ thống truyền thanh các phường, xã và xóm, tổ dân phố trên địa bàn.

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Cải cách thể chế

a) Về xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (QPPL); theo dõi thi hành pháp luật

- Công tác soạn thảo và ban hành văn bản QPPLcủa HĐND, UBND thành phố ngày càng được quan tâm, các văn bản QPPL được ban hành trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục theo quy định hiện hành (từ khâu xây dựng dự thảo, tổ chức lấy ý kiến góp ý và gửi cơ quan thẩm định trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành). Trong giai đoạn 2016-2020, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành 13Nghị quyết và 18 Quyết định (trong đó: thành phố Hòa Bình: 12 Nghị quyết, 06 Quyết định; Huyện Kỳ Sơn cũ:01 Nghị quyết, 12 Quyết định).

- Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL: Từ năm 2016 đến nay, đã tiến hành rà soát 58 văn bản QPPL thuộc thẩm quyền giải quyết(huyện Kỳ Sơn (cũ) 25 văn bản, thành phố (cũ) 33 văn bản). Kết quả rà soát, số văn bản còn hiệu lực là 44 văn bản; số văn bản hết hiệu lực thi hành toàn bộ là 08 văn bản.

- Về tình hình theo dõi thi hành pháp luật

Để triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ, hằng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn; thành lập Đoàn kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật đi kiểm tra một số đơn vị trực thuộc, 100% văn bản QPPL đều được kiểm tra. Qua đó nhằm phát hiện những vướng mắc, bất cập của văn bản QPPL đề xuất các biện pháp tháo gỡ kịp thời.

b) Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Ủy ban nhân dân thành phố thường xuyên chỉ đạo đẩy mạnh, phát huy vai trò của Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn: Xây dựng kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật, kế hoạch thực hiện các chương trình, đề án, các luật mới ban hành và văn bản chỉ đạo, điều hành…

- Kết quả từ năm 2016 đến nay, đã tổ chức 1200 Hội nghị cho 12.531 lượt người tham dự, nội dung chủ yếu về Luật Xây dựng, Luật Bảo hiểm Y tế, Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình; Luật Đất đai, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Luật hình sự; Luật Hộ tịch, Luật Trẻ em; Luật Dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Tín ngưỡng tôn giáo, Luật An toàn giao thông đường bộ; Luật Phòng chống Ma túy; tuyên truyền xâm hại tình dục trẻ em, tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động sản xuất rượu thủ công, tuyên truyền công tác quản lý đô thị, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng v.v….

+ Duy trì thực hiện định kỳ mỗi tháng một chuyên mục “Pháp luật với đời sống” với những nội dung tuyên truyền bám sát các sự kiện văn hoá, chính trị tại địa phương; định kỳ hàng tuần thực hiện chuyên mục “Tìm hiểu các chính sách pháp luật” trên sóng phát thanh và truyền hình thành phố. Tích cực tuyên truyền qua hệ thống loa phát thanh tại khu dân cư, tuyên truyền các văn bản pháp luật mới bằng xe thông tin cổ động của thành phố. Bên cạnh đó còn thực hiện tuyên truyền thông qua hình thức mít tinh, cổ động, diễu hành bằng xe ô tô, mô tô. Tăng cường phát tờ rơi, tờ gấp, băng đĩa tuyên truyền tới người dân ở vùng đặc biệt khó khăn (xã Thái Thịnh (cũ), xã Độc Lập). Số tài liệu đã phát hành miễn phí lên đến hàng chục nghìn tài liệu.

2. Cải cách thủ tục hành chính

a) Về kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC)

- Hằng năm, đã ban hành các kế hoạch kiểm soát TTHC, kế hoạch rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; kế hoạch kiểm tra công tác kiểm soát TTHC; kế hoạch nâng cao hiệu quả Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố; kế hoạch truyền thông kiểm soát TTHC theo quy định của Chính phủ. Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị xây dựng báo cáo và tổng hợp kết quả công tác kiểm soát TTHC trên địa bàn thành phố định kỳ hàng quý và năm đảm bảo thời gian quy định. Từ năm 2016 đến nay, có 156 TTHC được đề xuất đơn giản hóa thuộc các lĩnh vựcTài nguyên và Môi trường; Tư pháp - Hộ tịch; Quản lý đô thị, Y tế, Giáo dục.

- Thực hiện nghiêm túc việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ. Trong giai đoạn 2016-2020, đã chỉ đạo Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tiến hành thu thập ý kiến đánh giá của người dân, tổ chức đến giải quyết TTHC tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả bằng nhiều hình thức: Phát phiếu lấy ý kiến, đánh giá qua hệ thống điện tử, qua Cổng dịch vụ công của tỉnh. Đến thời điểm hiện tại, không có ý kiến phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết.

b) Việc công khai TTHC theo quy định

Thường xuyên chỉ đạo các phòng chuyên môn, Uỷ ban nhân dân các phường, xã kịp thời niêm yết công khai đầy đủ các TTHC tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và trên Trang thông tin điện tử. Kịp thời cập nhật các nội dung TTHC mới ban hành; các TTHC được sửa đổi, bổ sung, thay thế; các TTHC bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết để đảm bảo công khai chính xác, rõ ràng, đầy đủ tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khi tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện.

c) Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông

- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố và các phường, xã đã triển khai thực hiện đúng quy trình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ và trả kết quả theo quy định tại Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC.

- Đến nay, 16/19 xã, phường đã được đầu tư trang thiết bị điện tử theo hướng hiện đại và đã từng bước phát huy hiệu quả, giúp cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả cho người dân được thuận lợi, nhanh chóng, minh bạch, tiết kiệm chi phí và mang lại sự hài lòng cho tổ chức, công dân đến liên hệ giao dịch.

- Kết quả giải quyết TTHC trên địa bàn thành phố (số liệu từ ngày 01/6/2016 đến ngày 30/6/2020) đã tiếp nhận là 337.502 hồ sơ. Trong đó:

+ Số hồ sơ đã giải quyết và trả kết quả trước hạn, đúng hạn là 336.424 hồ sơ, đạt tỷ lệ 99,68%.

+ Số hồ sơ quá hạn là 767 hồ sơ, chiếm tỷ lệ 0,32%.

+ Số hồ sơ đang giải quyết 310 hồ sơ.

- Đối với những hồ sơ quá hạn, đã chỉ đạo Văn phòng HĐND và UBND cóvăn bản xin lỗi người dân theo quy định và chỉ đạo các cơ quan chuyên môn liên quan có văn bản giải trình, làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong công tác giải quyết TTHC.

- Công an thành phố đã có nhiều giải pháp mới trong thực hiện giải quyết TTHC cho người dân: Thành lập các tổ xuống cơ sở tại các phường, xã thu, cấp đổi, đính chính, thay đổi thông tin địa giới hành chính theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với 10.485 hộ gia đình; trực tiếp cấp lưu động chứng minh thư nhân dân tại các phường, xã cho 931 người, cấp lưu động tại bệnh viện, tại gia đình có người ốm đau đối với 18 trường hợp; phối hợp với bệnh viện chuyển phát nhanh và trả kết quả tại nhà cho 17 trường hợp. Bên cạnh đó, đã tổ chức tiếp nhận, hoàn thiện và trả hồ sơ TTHC tất cả các ngày trong tuần từ thứ hai đến thứ bảy; thực hiện trả trước thời hạn theo yêu cầu của người dân đối với 386 hồ sơ hộ khẩu và 75 chứng minh thư nhân dân.

- Chi cục thuế khu vực Hòa Bình - Đà Bắc đã có nhiều đổi mới trong giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp. Đã trang bị hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho việc nâng cấp hệ thống phần mềm quản lý thuế đáp ứng cho việc tiếp nhận các hồ sơ TTHC của người nộp thuế. Thường xuyên tuyên truyền các thông tin về chính sách, pháp luật thuế mới thông qua các buổi tập huấn, đối thoại trực tiếp, các hệ thống thông tin truyền thông. Qua đó, người nộp thuế đã thuận tiện trong việc giao dịch với cơ quan thuế bằng điện tử như nộp hồ sơ khai thuế, nộp tiền thuế phát sinh bất kỳ thời điểm nào trong kỳ hạn mà không phải trực tiếp đến cơ quan thuế.

d) Về triển khai tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích

Ủy ban nhân dân thành phố đã thỏa thuận và ký hợp đồng với Bưu điện thành phố trong việc chuyển hồ sơ, trả kết quả giải quyết TTHC cho người dân, tổ chức; đồng thời tổ chức tuyên truyền cho nhân dân về lợi ích khi thực hiện giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích, đồng thời chuẩn bị cơ sở vật chất, các điều kiện đảm bảo phục vụ tốt nhất cho người dân theo quy định.

3. Cải cách tổ chức bộ máy

a) Về kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp

- Thực hiện Kế hoạch số 02-KH/BCĐ ngày 16/4/2018 của Ban Chỉ đạo tỉnh về thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII, Uỷ ban nhân dân thành phố đã xây dựng các Đề án: Giải thể Trung tâm khuyến khích phát triển kinh tế; kiện toàn cơ cấu tổ chức, hoạt động của Đội trật tự đô thị; sáp nhập Trung tâm Văn hóa, Thể thao với Đài Truyền thanh, Truyền hình thành phố, xây dựng Đề án tổ chức lại Trung tâm phát triển quỹ đấttrình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; ban hành Quyết định số 459/QĐ-UBND ngày 11/02/2020 về tổ chức lại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng.

- Năm 2019, đã xây dựng Đề án thành lập Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Kỳ Sơn (cũ) trên cơ sở đổi tên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện Kỳ Sơn và Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Kỳ Sơn (cũ).

- Đã ban hành Kế hoạch số 1250/KH-UBND ngày 05/6/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc thực hiện Đề án sáp nhập trường học của ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Hòa Bình đến năm 2020. Kết quả, đã hoàn thành việc sáp nhập các đơn vị trường học (giảm 20 trường): Huyện Kỳ Sơn (cũ) đã sáp nhập 18 trường học (9 trường tiểu học, 9 trường THCS) thành 9 trường Tiểu học và Trung học cơ sở; thành phố (cũ) đã sáp nhập 22 trường học (11 trường tiểu học, 11 trường THCS) thành 11 trường Tiểu học và Trung học cơ sở.

- Đã trình Ủy ban nhân dân tỉnh hồ sơ Đề án thành lập phường Quỳnh Lâm và phường Trung Minh; ngày 19/7/2019 Hội đồng nhân dân tỉnh có Nghị quyết số 162/NQ-HĐND về việc thông qua chủ trương thành lập phường Quỳnh Lâm và phường Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

b)Việc thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã

Thực hiện Kế hoạch số 100/KH-UBND ngày 24/5/2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc triển khai, thực hiện việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn (cũ) và thành phố Hòa Bình đã thực hiện việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đúng theo Nghị quyết của Trung ương và các văn bản hướng dẫn của tỉnh. Sau khi thực hiện sắp xếp, thành phố Hòa Bình (cũ) có 13 phường, xã (giảm 03 đơn vị hành chính cấp xã); huyện Kỳ Sơn (cũ) có 6 phường, xã (giảm 04 đơn vị hành chính cấp xã). Hiện nay toàn thành phố có 19 phường, xã (10 phường và 09 xã).

c) Tình hình quản lý biên chế, thực hiện tinh giản biên chế

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; trong giai đoạn 2018-2019, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Công văn số 2231/UBND-NV ngày 19/9/2018 về rà soát điều kiện, tiêu chuẩn của cán bộ, công chức, viên chức các phòng, ban, đơn vị, Ủy ban nhân dân các phường, xã. Đến nay, các cơ quan, đơn vị đã thực hiện nghiêm túc việc sử dụng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đảm bảo theo quy định.

- Ngày 06/9/2019, Thành ủy Hòa Bình đã ban hành Quyết định số 09-QĐ/TH.U về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, theo đó thẩm quyền, quy trình về công tác cán bộ được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn.

- Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 2778/QĐ-UBND ngày 16/10/2019 về Quy định đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng tháng đối với công chức, viên chức, lao động hợp đồng các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố. Việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức được thực hiện hằng tháng và có thông báo công khai kết quả đến từng cán bộ, công chức theo quy định.

- Tiếp tục thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Kế hoạch số 32/KH-UBND ngày 28/02/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tinh giản biên chế hành chính, sự nghiệp và lao động hợp đồng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình năm 2019 theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 và Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ. Đến thời điểm hiện tại, Ủy ban nhân dân thành phố đã tinh giản được 183/230 trường hợp, đạt 79,57%.

4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

a) Việc xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức

- Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị tiếp tục hoàn thiện, xây dựng Đề án vị trí việc làm để gửi Sở Nội vụ thẩm định theo quy định. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 314/QĐ-UBND ngày 01/02/2018 về việc phê duyệt Bản mô tả công việc và Khung năng lực vị trí việc làm của các cơ quan hành chính thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; Công văn số 2201/SNV-TCBC&TCPCP ngày 20/8/2019 của Sở Nội vụ về thẩm định Đề án vị trí việc làm của Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố; Công văn số 2178/SNV-TCBC&TCPCP ngày 19/8/2019 của Sở Nội vụ về thẩm định Đề án vị trí việc làm của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố.

- Đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị hoàn thiện bản mô tả công việc, khung năng lực vị trí việc làm làm căn cứ để bố trí, sắp xếp, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

b) Việc tuyển dụng, thực hiện thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo,quản lý; công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức; kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

- Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị rà soát và đăng ký nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức làm cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng hằng năm đảm bảo chất lượng, sát với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố. Trong giai đoạn 2016-2020, đã cử 1.648 lượt cán bộ, công chức, viên chức tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ (cao đẳng, đại học, trung cấp lý luận chính trị, quản lý nhà nước chương trình chuyên viên); 790 lượt cán bộ, công chức cấp xã tham gia các lớp bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

- Đảng bộ thành phố Hòa Bình đã thực hiện các mặt công tác cán bộ theo đúng quy trình, quy định; xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của thành phố. Trong đó, từng bước thực hiện đánh giá cán bộ thẳng thắn, công tâm, khách quan, giúp cán bộ phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tiến bộ không ngừng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Quy hoạch cán bộ được kiện toàn và đổi mới thường xuyên, bảo đảm tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ cán bộ. Luân chuyển cán bộ đảm bảo cơ cấu, số lượng hợp lý, phù hợp với sở trường; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ có triển vọng đi vào rèn luyện trong thực tiễn, sâu sát cơ sở, bộc lộ tài năng, khắc phục tình trạng khép kín trong từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, tạo sự đồng đều về chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp.

c) Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ

- Việc chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức cũng được quan tâm thực hiện. Đã thường xuyên chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nghiêm các quy định về giờ giấc làm việc, việc đeo thẻ công chức trong giờ làm việc, giải quyết, hướng dẫn hồ sơ thủ tục hành chính không quá một lần. Ngày 12/3/2020, Ủy ban nhân dân thành phố đã tổ chức ký cam kết thực hiện nhiệm vụ giữaChủ tịch Ủy ban nhân dân thành phốvới Thủ trưởng các phòng, ban, đơn vị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường, xã theo Kế hoạch số 160/KH-UBND ngày 30/01/2020 về thực hiện năm “nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành trên địa bàn thành phố” và ký cam kết thực hiện nhiệm vụ.

- Tổ công tác kiểm tra CCHC, công chức, công vụ đã kiểm tra đột xuất việc thực thi nhiệm vụ, công vụ tại 2 đơn vị (phường Dân Chủ, xã Quang Tiến).

d) Về cán bộ, công chức cấp xã

- Số lượng cán bộ, công chức cấp xã có mặt đến ngày 30/6/2020 của thành phố là 461 người (trong đó: Cán bộ là 202 người, công chức là 259 người).

- Thực hiện mức khoán quỹ phụ cấp và phụ cấp kiêm nhiệm để chi trả hàng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã đối với các tổ chức: Hội Người cao tuổi, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phục nữ, Đoàn thanh niên cộng sản với mức khoán bằng 0,1 mức lương cơ sở/hội/tháng.

5. Cải cách tài chính công

a) Việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý ngân sách

Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 117/2013/NĐ-CP của Chính phủ, các cơ quan, đơn vị đã chủ động, rà soát, sửa đổi, xây dựng và ban hành quy chế chi tiêu nội bộ và quản lý tài sản công để thực hiện việc quản lý, thu, chi ngân sách theo đúng quy định, đảm bảo công khai dân chủ, tăng trách nhiệm và chủ động trong việc quản lý sử dụng kinh phí.

b) Việc đổi mới cơ chế tài chính đốivới cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập

- Thực hiện phân bổ ngân sách theo định mức thời kỳ ổn định ngân sách và biện pháp cơ chế điều hành trong các năm đảm bảo đúng quy định. Kinh phí tiền lương, phục cấp, các khoản đóng góp và kinh phí chi thường xuyên của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phân bổ theo định mức khác nhau, phù hợp với từng loại đối tượng.

- Hiện tại, thành phố có 13 cơ quan quản lý nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP và 19 phường, xã thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 117/NĐ-CP.

- Số đơn vị sự nghiệp công lập của thành phố đã thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đúng quy định là 68 đơn vị. Trong đó:

+ Số đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước đảm bảo chi thường xuyên: 65 đơn vị (gồm 63 trường thuộc khối sự nghiệp giáo dục và đào tạo; Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên; Đội trật tự đô thị).

+ Số đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi thường xuyên: 01 đơn vị (Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thông).

+ Số đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên: 02 đơn vị   (Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố và Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố).

6. Hiện đại hóa hành chính

a) Kết quả đạt được trong ứng dụng công nghệ thông tin

- Về hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống phần mềm quản lý, dữ liệu chuyên ngành, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đã được Ủy ban nhân dân thành phố đã quan tâm chỉ đạo đầu tư và huy động từ nhiều nguồn để mua sắm, trang bị hạ tầng công nghệ thông tin. Tổng số máy tính trang bị cho cán bộ, công chức các phòng, ban, đơn vị đạt 96%:

+ 100% các phòng, ban đơn vị thành phố đã có máy chủ, mạng nội bộ (LAN) và kết nối Internet băng thông rộng (ADSL, FTTH) và mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước đã được triển khai.

+ 100% các cơ quan cơ quan, đơn vị đã được bàn giao và hướng dẫn sử dụng chữ ký số cá nhân, chữ ký số chuyên dùng của tổ chức để trao đổi văn bản điện tử trên môi trường mạng. Trong đó 9/15 phường, xã đã thực hiện ký số văn bản đi.

- Về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị:

+ 100 % đơn vị sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành vào xử lý công việc hàng ngày; tỷ lệ văn bản được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử giữa các cơ quan nhà nước đạt trên 70%; hiện trạng kết nối giữa các hệ thống quản lý văn bản và điều hành và với trục liên thông văn bản quốc gia ổn định, hiệu quả, góp phần tích cực trong việc nâng cao năng xuất lao động, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí gấy tờ tài liệu.

+ Việc ứng dụng công nghệ thông tin, giải quyết hồ sơ trên nền tảng điện tử đã được triển khai với mục tiêu giảm mạnh các loại giấy tờ. Quy trình xử lý văn bản điện tử được thực hiện khép kín hoàn toàn trên môi trường mạng, từ khâu tiếp nhận, phối hợp, xử lý, trình duyệt đến ký văn bản, phát hành văn bản đảm bảo thông suốt, minh bạch, kiểm soát tiến độ, chất lượng công việc ở từng khâu, từng cá nhân tham gia xử lý. Đến nay, tỷ lệ hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng đạt trên 90%.

- Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp; triển khai các hệ thống một cửa điện tử:

+ Cổng thông tin điện tử hiện đang cung cấp 262 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1,2; 68 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 thuộc các lĩnh vực. Chất lượng Trang thông tin điện tử của thành phố và 19 đơn vị phường, xã ngày càng được nâng cao, đảm bảo cung cấp đầy đủ những thông tin chỉ đạo, điều hành kịp thời, chính xác; thường xuyên cập nhật các chính sách mới và các thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp biết để thực hiện.

+ Đến nay phần mềm một cửa điện tử đã được triển khai đến tất cả các cơ quan, đơn vị; đảm bảo 100% hồ sơ cá nhân, tổ chức đến giao dịch được xử lý thông qua phần mềm một cửa điện tử.

- Hiện tại, trên địa bàn thành phố đã có 16 phường, xã có Bộ phận một cửa hiện đại theo quy định. Theo lộ trình trong năm 2020, sẽ triển khai lắp đặt đồng bộ trang thiết bị của Bộ phận một cửa hiện đại đối với 19/19 đơn vị phường, xã.

c) Về tình hình triển khai hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008, 9001:2015 của các cơ quan, đơn vị

Năm 2019, Ủy ban nhân dân thành phố (cũ) và UBND huyện Kỳ Sơn (cũ) đã chuyển đổi áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015 đối với 13 cơ quan chuyên môn, 10 đơn vị cấp xã (4 đơn vị cấp xã thuộc thành phố và 6 đơn vị cấp xã thuộc huyện Kỳ Sơn). Việc áp dụng Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 đã giúp cho công việc của các cơ quan hành chính được rõ ràng và khoa học hơn; xác định rõ nhiệm vụ cụ thể của từng công chức, viên chức, mối quan hệ, sự phối hợp chặt chẽ giữa trong và ngoài đơn vị; kiểm soát tốt các tài liệu, hồ sơ dễ tìm, dễ thấy, dễ kiểm tra; khắc phục được tình trạng không được cập nhật kịp thời, không được sắp xếp mã hóa lưu trữ các tài liệu...Các cơ quan, đơn vị đã tiến hành công bố Hệ thống quản lý chất lượng và thực hiện việc duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo đúng quy định.

 III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

 1. Những kết quả tích cực đã đạt được

 - Được sự quan tâm, lãnh đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình, trong giai đoạn 2016-2020, công tác CCHC của thành phố đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần làm thay đổi mối quan hệ giữa chính quyền và người dân, xây dựng nền hành chính phục vụ, tạo thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức đến giao dịch. Song song với việc tiếp tục hoàn thiện Bộ phận một cửa hiện đại thành phố và các phường, xã trong việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến, thành phố đã đẩy mạnh cải cách TTHC, kịp thời rà soát, cập nhật, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các TTHC không còn phù hợp. Chất lượng ban hành các văn bản QPPL được nâng lên; TTHC được niêm yết công khai, đầy đủ phục vụ người dân, doanh nghiệp. Quá trình thực hiện được kiểm tra, giám sát chặt chẽ.

- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được rà soát, sắp xếp theo hướng tinh gọn. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được nâng cao trong quá trình thực thi công vụ đã từng bước góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

- Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong công tác quản lý nhà nước từ thành phố xuống các phường, xã. Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 tiếp tục được duy trì.

2. Những hạn chế và nguyên nhân

a) Hạn chế

- Sự phối hợp giữa các phòng, ban, ngành và cơ sở nhiều lúc chưa được kịp thời, chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng, chế độ thông tin báo cáo từ cơ sở còn chậm.

- Việc đánh giá công chức, viên chức chưa đúng thực chất, chưa phân loại đúng với mức độ hoàn thành công việc.

- Chưa thực sự phát huy được tính năng, hiệu quả của phần mềm Quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp, Trang thông tin điện tử để tăng cường trao đổi, sử dụng văn bản điện tử, giảm giấy tờ, tiết kiệm chi phí.

- Công tác giải quyết TTHC cho người dân, tổ chức đã có bước chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn một số hồ sơ giải quyết quá hạn, chiếm 0,32%. Chưa thực hiện được toàn bộ quy trình tiếp nhận, giải quyết TTHC 4 tại chỗ (tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, trả kết quả) tại Bộ phận một cửa, tạo bước đột phá mới trong cải cách TTHC, tiết kiệm thời gian, công sức và kinh phí cho người dân.

- Tình hình cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các cơ quan, đơn vị đã được quan tâm thực hiện, tuy nhiên tỷ lệ đạt được còn thấp.

- Việc sử dụng hộp thư điện tử công vụ chưa thường xuyên; một số cơ quan, đơn vị xử lý văn bản trên phần mềm còn chậm; việc sử dụng chữ ký số tỷ lệ còn thấp. Các đơn vị sự nghiệp mới chỉ có 01 tài khoản đại điện của đơn vị; Ủy ban nhân dân các phường xã mới có tài khoản của Chủ tịch, Phó chủ tịch và văn thư, chưa có tài khoản đến từng công chức nên chưa thực hiện được trao đổi, giải quyết công việc trên phần mềm quản lý văn bản, tại các đơn vị này vẫn phải in giấy để giao việc.

b) Nguyên nhân

- Nguyên nhân khách quan

+ Hệ thống văn bản của một số Bộ, ngành Trung ương còn chồng chéo, tính ổn định và đồng bộ chưa cao, quy định nhiều thủ tục gây trở ngại trong quá trình cải cách thủ tục hành chính đặc biệt là lĩnh vực đất đai.

+ Một số TTHC công bố không đảm bảo đầy đủ các yếu tố cấu thành của TTHC như không quy định thời gian giải quyết (thời gian hoàn thành nghĩa vụ tài chính), chủ thể thực hiện (lĩnh vực Nội vụ, Tư pháp, người có công) gây khó khăn cho công chức, viên chức trong việc phân tách quy trình, hồ sơ và thẩm quyền giải quyết đối với từng thủ tục để người dân, tổ chức mới có thể thự hiện được.

+ Kinh phí dành cho CCHC còn hạn chế, đặc biệt là kinh phí điều tra xã hội học, kinh phí cho tuyên truyền CCHC và kinh phí dành cho mua sắm trang thiết bị của Bộ phận một cửa hiện đại.

- Nguyên nhân chủ quan

+ Việc phát động cuộc thi tìm kiếm sáng kiến CCHC chưa thu hút được sự quan tâm của cán bộ, công chức và người dân, doanh nghiệp do kinh phí hỗ trợ còn thấp so với nguồn lực đầu tư nghiên cứu, ứng dụng giải pháp, sáng kiến.

+ Về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông: Do các cơ quan ngành dọc đang sử dụng phần mềm riêng không tích hợp được với phần mềm một cửa điện tử dùng chung của tỉnh.

Việc thực hiện dịch vụ công trực tuyến chưa được thực hiện đồng bộ từ việc tuyên truyền bằng nhiều hình thức đến cách thức tuyên truyền (đưa dịch vụ công đến từng người dân) để tạo sức lan tỏa và sự tham gia vào cuộc của tất cả các ngành, các cấp trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó, tâm lý của người dân vẫn còn ngại tham gia thực hiện nên số lượng hồ sơ tiếp nhận trực tuyến chưa cao.

+ Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của một số cán bộ, công chức, viên chức và người dân chưa thành thạo. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn hạn chế; Thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc.

3. Những bài học kinh nghiệm trong triển khai CCHC

- Có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, đồng bộ với quyết tâm cao và kịp thời của các cấp ủy, chính quyền từ thành phố đến cơ sở. Trong đó, phải phát huy mạnh mẽ vài trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền vận động, thuyết phục, coi đây là giải pháp trọng tâm, then chốt nhằm nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận cao trong quá trình thực hiện, nhất là việc vận động phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

- Quá trình thực hiện sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế phải đồng bộ, công khai, dân chủ, thận trọng, vận dụng tối đa chế độ chính sách cho cán bộ, công chức, lấy quyền và lợi ích của cán bộ, đảng viên làm cơ sở; vừa sắp xếp tinh gọn bộ máy nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động chung của các cơ quan, đơn vị.

- Quan tâm công tác sơ kết, tổng kết, nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế, vướng mắc, phát huy những sáng kiến kinh nghiệm hiệu quả; kịp thời biểu dương, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm tốt.

- Xây dựng nhiều giải pháp mang tính đột phá, đẩy mạnh cải cách TTHC, nâng cao trách nhiệm của công chức tham mưu; Bên cạnh đó, cần quan tâm khảo sát điều tra ý kiến người dân, tổ chức về dịch vụ hành chính công, ghi nhận tầm quan trọng sự tham gia của người dân vào các vấn đề chung của địa phương và là cơ sở để nâng cao chất lượng dịch vụ công thông qua tìm hiểu, đánh giá kết quả hiện tại của các dịch vụ công và nguyện vọng của người dân.

Phần thứ hai

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2021 - 2025

I. MỤC TIÊU CHUNG

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện CCHC của thành phố đồng bộ trên 6 lĩnh vực, từ cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính,thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính; hằng năm Chỉ số CCHC của thành phố trong nhóm 05 huyện, thành phố dẫn đầu của tỉnh.

II. MỤC TIÊU CỤ THỂ

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

- Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị bám sát kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh, thành phố để triển khai thực hiện. Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các đơn vị trong triển khai thực hiện CCHC.

- Tăng cường thông tin, tuyên truyền về CCHC, chủ đề năm 2020; nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị hành chính công (PAPI), nâng cao năng lực cạnh canh cấp tỉnh (DDCI). Tổ chức Hội nghị tập huấn về công tác CCHC; in phát tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền, hướng dẫn người dân, tổ chức trên địa bàn tìm hiểu và sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4.

2. Về cải cách thể chế

- Đẩy mạnh công tác xây dựng cơ chế, chính sách pháp luật của địa phương, trong đó tập trung vào các lĩnh vực then chốt, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

- Thực hiện có hiệu quả kế hoạch kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL thuộc thẩm quyền ban hành.

3. Cải cách thủ tục hành chính

- Đẩy mạnh đơn giản hóa TTHC, cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, trọng tâm là TTHC lĩnh vực đất đai, đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng. Nâng cao chất lượng hiệu quả giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; mức độ hài lòng của người dân tổ chức về giải quyết TTHC đạt trên 90%.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết TTHC, nâng cao trình độ công nghệ thông tin của các công chức trực tiếp tiếp nhận TTHC tại trụ sở của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các phường, xã. Bố trí cơ sở vật chất thuận lợi nhất để phù hợp với mô hình giải quyết TTHC “4 tại chỗ”.

4. Cải cách tổ chức bộ máy

Tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống Chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.

5. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, phấn đấu đến năm 2025, 100% cán bộ, công chức, viên chức từ thành phố đến phường, xã có trình độ chuyên môn đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định; 100% cơ quan, đơn vị có cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp phù hợp với vị trí việc làm.

- Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế để đưa những người không làm được việc ra khỏi bộ máy, nhằm cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

6. Cải cách tài chính công

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; phấn đấu giảm 10% ngân sách nhà nước cấp cho chi hoạt động sự nghiệp.

- Phấn đấu cải thiện và tăng điểm đối với 10 chỉ số thành phần: Chi phí gia nhập thị trường, Chi phí tiếp cận đất đai, Chi phí thời gian, Chi phí không chính thức, Cạnh tranh bình đẳng, Tính năng động, Tính minh bạch, Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự, Đào tạo lao động.

7. Hiện đại hóa hành chính

- Tỷ lệ hồ sơ giải quyết dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ đạt từ 50% trở lên; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.

- Triển khai nhân rộng Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của từ thành phố đến phường, xã thông qua hệ thống trực tuyến.

- 40% số lượng người dân và doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính quyền điện tử được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất trên tất cả các hệ thống thông tin.

- Đến năm 2025, 100% cơ quan hành chính duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015. Áp dụng thí điểm ISO điện tử tại một số đơn vị CQHC.Đến năm 2030, 100% cơ quan hành chính áp dụng ISO điện tử.

Trên đây là báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 13/5/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn thành phố Hòa Bình./.

 

 

 

Quy trình ISO

 TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH - TỈNH HÒA BÌNH
Số giấy phép: 104/GP-STTTT, cấp ngày: (10/9/2015) - Chịu trách nhiệm chính:  Nguyễn Thế Dũng Phó Chủ tịch UBND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường Cù Chính Lan, TP Hòa Bình, Tỉnh Hòa Bình - Điện thoại: (02183.856.473) - Fax : (02183.852.258)
Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình (http://ubndtp.hoabinh.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này. 
orjinal cialis