vvvvvvvvvv

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Hình ảnh hoạt động

TP-Hoabinh

Liên kết Website

Lịch

Tháng 1 2021
CTTTTTT
12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31

Hoc tap va lam theo tam guong bac

Tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2021 - 2030 lĩnh vực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; Chỉ số PCI; đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan hành chính; đầu tư theo hìn

Thực hiện Công văn số 661/SKHĐT-DN ngày 24/3/2020 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình về tổng kết, đánh giá việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI tỉnh Hòa Bình; Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo kết quả thực hiện, tổng kết, đánh giá việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh trên địa bàn thành phố như sau:

Thực hiện Công văn số 661/SKHĐT-DN ngày 24/3/2020 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình về tổng kết, đánh giá việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI tỉnh Hòa Bình;

Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo kết quả thực hiện, tổng kết, đánh giá việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh trên địa bàn thành phố như sau:

I. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh

Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa đang là xu hướng tất yếu và ngày càng được mở rộng. Trước tình hình nền kinh tế đang bộ lộ nhiều hạn chế, yếu kém và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp. Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá và xếp hạng ở mức thấp hơn nhiều so với khu vực. Trước tình hình đó, để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hàng năm Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia như: Nghị quyết số 19/NQ-CP năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018; Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019, 2020 đã từng bước cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung, tỉnh Hòa Bình nói riêng và đặc biệt là thành phố Hòa Bình - Trung tâm Kinh tế - Chính trị - Văn hóa của tỉnh.

1.1. Công tác tham mưu

Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Quyết định ban hành Kế hoạch về thực hiện nhiệm vụ chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Hòa Bình. Ủy ban nhân dân thành phố đã chủ động xây dựng Kế hoạch về tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh hàng năm, đề ra những phải pháp chủ yếu và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì, chịu trách nhiệm cải thiện các chỉ số thành phần của PCI.

Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hàng năm về tình hình cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh. Qua công tác báo cáo, tổng kết, Ủy ban nhân dân thành phố đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị điều chỉnh, tăng cường và đưa ra định hướng cho kế hoạch hành động những năm tiếp theo.

1.2. Kết quả đạt được về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao chỉ số PCI

Căn cứ nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1300/QĐ-UBND ngày 30/5/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về ban hành Kế hoạch thực hiện cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Hòa Bình năm 2018 và những năm tiếp theo. Ủy ban nhân dân thành phố triển khai thực hiện và đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

- Lãnh đạo thành phố thường xuyên tham gia các hội nghị đối thoại với doanh nghiệp để lắng nghe ý kiến phản hồi của doanh nghiệp, kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong quá trình SXKD của doanh nghiệp. Tổ chức tiếp dân định kỳ 02 lần/tháng tại phòng họp của Ủy ban nhân dân thành phố.

- Duy trì đường dây nóng, hỏi đáp trực tiếp tại cơ quan đơn vị, đơn vị và xây dựng các hình thức đối thoại, hỏi đáp trực tiếp và gián tiếp qua các công cụ thông tin khác để kịp thời tiếp nhận phản ánh và hướng dẫn, giải đáp tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp. Hệ thống các vấn đề vướng mắc thường gặp của doanh nghiệp thành cẩm nang hướng dẫn và đăng công khai thành chuyên mục trên Trang thông tin điện tử của UBND thành phố, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và tham khảo.

- Quán triệt việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo và tiên phong của lãnh đạo các cấp chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết công việc của cán bộ, công chức đảm bảo giải quyết công việc nhanh gọn, chủ động và khắc phục tình trạng đùn, đẩy trách nhiệm qua lại giữa các cơ quan. Gắn trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

- 100% các cơ quan đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, giải quyết thủ tục hành chính và xây dựng chính quyền điện tử và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO: 2008 vào hoạt động của cơ quan nhà nước.

- Về việc xây dựng giải pháp cụ thể cải thiện 10 chỉ số thành phần PCI, cụ thể như sau:  

a) Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường

- Thực hiện đề nghị cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể đảm bảo theo đúng thời gian quy định. Tính từ đầu năm 2011 đến hết Quý I năm 2020 giải quyết 5485/5485 hồ sơ. Trong đó: cấp mới 4014 giấy chứng nhận đăng ký thành lập hộ kinh doanh cá thể; cấp đổi, cấp lại 1429 giấy chứng nhận đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh cá thể; cấp mới, cấp đổi 42 giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã (trong đó 32 HTX nông nghiệp, 10 HTX phi nông nghiệp).

- Thực thi đầy đủ điều kiện kinh doanh đã bị bãi bỏ, những nội dung được đơn giản hóa các quy định về điều kiện kinh doanh; không tự đặt thêm điều kiện kinh doanh trái quy định của pháp luật; xử lý nghiêm những cán bộ, công chức không thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về điều kiện kinh doanh.

b) Chỉ số Chi phí tiếp cận đất đai

- Đảm bảo thời gian cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tính từ đầu năm 2011 đến hết quý I năm 2020, đã hoàn thiện và duyệt cấp 133.232 giấy chứng nhận QSDĐ của các hộ thuộc diện cấp mới, cấp đổi, cấp lại, chuyển mục đích sử dụng đất, hợp thửa với diện tích 10.637,26m2 (còn phải cấp 8.586 giấy).

- Công tác giao đất, thu hồi đất: Tính từ đầu năm 2016 đến hết quý I năm 2020, thành phố ra quyết định thu hồi 333.149,2m2 đất các loại đối với 144 dự án, công trình trên địa bàn.

c) Chỉ số Chi phí tính minh bạch

- Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn thực hiện công bố công khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hòa Bình hàng năm; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố; dự toán thu, chi ngân sách nhà nước, danh mục các dự án đầu tư; các biểu mẫu thủ tục hành chính lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư, thuế, phí, lệ phí.. trên Trang Thông tin điện tử thành phố, các phương tiện đại chúng và niêm yết tại trụ sở cơ quan trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính đã tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, các nhà đầu tư tiếp cận thông tin một cách công bằng các văn bản, chính sách và quy định mới, tham gia vào quá trình ra quyết định cũng như giám sát quá trình thực thi các quyết định quản lý nhà nước.

d) Chỉ số Chi phí thời gian

- 100% các cơ quan đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO: 2008 vào hoạt động của cơ quan nhà nước.

- Thực hiện rà soát, đánh giá thủ tục hành chính, đơn giản hóa, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của thành phố đã hướng dẫn các cá nhân, tổ chức trong việc hoàn thiện hồ sơ, đảm bảo hạn chế tối đa chỉnh sửa nhiều lần. Kết quả điều tra cho thấy có 93,44% số người được hỏi phản ánh chỉ phải đi lại từ 1 đến 2 lần trong quá trình giải quyết hồ sơ TTHC; 6,56% phải đi lại 3 lần (đối với các hồ sơ liên thông thuộc lĩnh vực đất đai chủ yếu do người dân phải đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế sau đó trực tiếp chuyển hồ sơ về Bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ để chờ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

e) Chỉ số Chi phí không chính thức

- Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Kế hoạch số 133/KH-UBND, ngày 21/01/2020 về việc kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020trên địa bàn thành phố;Kế hoạch số 164/KH-UBND ngày 01/02/2020 kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát TTHC năm 2020 trên địa bàn thành phố Hòa Bình; Công văn số 509/UBND-VP ngày 12/3/2020 về việc báo cáo kết quả kiểm soát TTHC, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, UBND các phường, xã thường xuyên thực hiện nhiệm vụ kiểm soát các quy định, thủ tục hành chính đang được thực hiện tại cơ quan, đơn vị; Kế hoạch số 130/KH-UBND ngày 21/01/2020 về rà soát, đánh giá TTHC năm 2020 trên địa bàn thành phố. Qua công tác trên đảm bảo không còn hiện tượng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.

f) Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng

- Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện công khai, minh bạch các cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính và chính sách hỗ trợ của trung ương, của tỉnh, của thành phố tới tất cả các loại hình doanh nghiệp. Không phân biệt đối xử với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

i) Chỉ số Tính năng động

- Thường xuyên duy trì đường dây nóng, hỏi đáp trực tiếp tại cơ quan đơn vị, đơn vị và xây dựng các hình thức đối thoại, hỏi đáp trực tiếp và gián tiếp qua các công cụ thông tin khác để kịp thời tiếp nhận phản ánh và hướng dẫn, giải đáp tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp. Hệ thống các vấn đề vướng mắc thường gặp của doanh nghiệp thành cẩm nang hướng dẫn và đăng công khai thành chuyên mục trên Trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và tham khảo.

- Đẩy mạnh việc thực hiện thu hút đầu tư, tham gia thẩm định chủ trương đầu tư các dự án trên địa bàn các lĩnh vực luôn được quan tâm chỉ đạo. Tính từ năm 2011 đến hết quý I năm 2020, trên địa bàn thành phố có 163 dự án đã được phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh (trong đó: 11 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 263.119 nghìn USD; 152 dự án trong nước với vốn đăng ký là 26.233 tỷ đồng).

j) Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

- Thực hiện Quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 30/01/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc ủy quyền quyết định thành lập Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể; xây dựng, thẩm định và phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn các huyện, thành phố. Tính từ năm 2016 đến hết quý I năm 2020 đã phê duyệt giá đất cụ thể phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng 78 dự án, công trình; trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt giá đất cụ thể đối với 13 dự án. Qua đó rút ngắn được thời gian thực hiện các thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư, tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai dự án.

k) Chỉ số Đào tạo lao động

- Hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố thường xuyên chỉ đạo các đơn vị, phòng, ban chuyên môn có liên quan tăng cường liên kết hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội, dạy nghề, giới thiệu việc làm, cơ sở giáo dục lao động xã hội trên địa bàn thành phố với các khu, cụm công nghiệp nhằm kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác đào tạo, tuyển dụng. Tính từ năm 2011 cho đến hết quý I năm 2020 đã giới thiệu việc làm cho 18.100 lao động vào làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn.

h)Chỉ số Thiết chế pháp lý và an ninh trật tự

- Công tác tiếp dân, tiếp nhận và giải quyết đơn thư của công dân được duy trì và thực hiện tốt. Tính từ năm 2011 đến hết quý I năm 2020, thành phố có 984 đoàn với 1643 lượt người. Nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân chủ yếu về lĩnh vực quản lý đất đai, quản lý đô thị, chế độ chính sách, về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nhận được là 2112 đơn (khiếu nại 210 đơn; tố cáo 84 đơn; kiến nghị 1838 đơn); các đơn thư được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Công tác tiếp nhận giải quyết đơn thư khiếu nai, tố cáo đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; 100% vụ việc giải quyết khiếu nại đều tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan; ban hành các Quyết định giải quyết khiếu nại, Kết luận xác minh tố cáo đảm bảo đúng quy định, chấtlượng, hồ sơ tài liệu được lưu trữ đảm bảo theo quy định.

Quý I/2020 thành phố đang tiến hành cuộc thanh tra công tác quản lý Nhà nước và thực hiện Pháp luật của UBND phường Hữu Nghị, thanh tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND phường Hữu Nghị trong việc thực hiện Pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.

2. Kết quả đầu tư cải tạo, xây dựng trụ sở các cơ quan hành chính

Trong những năm qua, Ủy ban nhân dân thành phố đã thực hiện đầu tư cải tạo, xây dựng 09 trụ sở cơ quan hành chính, với tổng mức đầu tư là 76.740 triệu đồng. Qua công tác đầu tư, cải tạo trụ sở cơ quan hành chính đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu cấp thiết về điều kiện làm việc của cán bộ, công chức, viên chức các đơn vị thuộc thành phố, nâng cao hiệu quả trong công tác thực thi hành chính công vụ, góp phần chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường, cảnh quan cũng như nâng cao chỉ số năng lực canh của thành phố.

3. Kết quả đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường các biện pháp khuyến khích đầu tư theo hình thức công - tư (PPP)

Nhận thức đúng bản chất và mục tiêu xã hội hóa dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để khuyến khích phát triển xã hội hóa dịch vụ công, coi đây là một trong những giải pháp chủ yếu để huy động mạnh mẽ các nguồn lực và năng lực xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với sự phát triển xã hội. Thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy động được nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho các lĩnh vực dịch vụ công trong y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, thể thao, các công trình dự án cơ sở hạ tầng. Trong những năm qua Ủy ban nhân dân thành phố có 02 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Cụ thể như sau:

- Dự án Khu trung tâm hành chính - chính trị thành phố Hòa Bình được ký kết hợp đồng BT với Công ty Cổ phần Việt Tùng ngày 09/7/2015; thời gian thực hiện là 48 tháng (đã điều chỉnh); tổng mức đầu tư là 217.592.214.000 đồng. Bao gồm 05 hạng mục chính là Trụ sở Thành ủy và các đoàn thể; Nhà làm việc HĐND-UBND; Quảng trường và hạ tầng ngoài nhà; Công viên và các hạng mục phụ trợ; Nhà văn hóa trung tâm. Tiến độ thực hiện dự án tính đến thời điểm hiện tại đã thi công ước đạt 145 tỷ đồng, đạt 62% giá trị khối lượng theo Hợp đồng.

- Dự án Công viên Tuổi trẻ thành phố Hòa Bình được ký kết hợp đồng BRT với Công ty Cổ phần đầu tư năng lượng xây dựng thương mại Hoàng Sơn ngày 29/12/2016; thời gian thực hiện là 07 tháng (đang đề nghị điều chỉnh); tổng mức đầu tư là 74.000.000.000 đồng (trong đó vốn Nhà nước tham gia là 29.500.000.000 đồng). Hiện Ủy ban nhân dân thành phố đã trình Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh Báo cáo nghiên cứu khả thi tại Văn bản số 2709/TTr-UBND ngày 11/11/2019. Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có Báo cáo thẩm định tại Văn bản số 603/SKHĐT-DN ngày 18/3/2020.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Những kết quả tích cực đã đạt được

Thứ hạng chỉ số PCI của tỉnh Hòa Bình trong những năm gần đây:

Năm Điểm số Xếp hạng Mức tăng (bậc) Nhóm điều hành
2011 56,52 47/63 13 Khá
2012 55,51 41/63 6 Khá
2013 52,15 62/63 -21 Thấp
2014 56,57 44/63 18 Trung bình
2015 57,13 46/63 -2 Khá
2016 56,8 52/63 -6 Trung bình
2017 59,42 52/63 0 Trung bình
2018 61,73 48/63 4 Trung bình
2019 Chưa có dữ liệu PCI được công bố

Trong những năm qua, Ủy ban nhân dân thành phố thường xuyên quan tâm chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị chuyên môn, phụ trách chỉ số thành phần PCI thực hiện tốt theo Kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố được ban hành hàng năm. Một số kết quả tích cực đã đạt được như:

- Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện qua từng năm, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thành lập mới, mở rộng quy mô. Lũy kế đến nay thành phố có 2.320 doanh nghiệp (tương đương 64,8% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh) chủ yếu hoạt động sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực như công nghiệp, xây dựng, chế biến: 863 doanh nghiệp chiếm 37,2%; Nông, lâm, thủy sản: 236 doanh nghiệp chiếm 10,2%; Thương mại dịch vụ: 851 doanh nghiệp chiếm 36,7% và các lĩnh vực khác: 366 doanh nghiệp chiếm 15,8%.

- Công tác thu hút đầu tư những năm vừa qua thực hiện trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định, các cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường tiếp tục được thực hiện. Tuy nhiên, kinh tế của tỉnh nói chung và của thành phố nói riêng vẫn còn nhiều khó khăn, tình hình thu hút đầu tư vào thành phố vẫn đạt được những kết quả tương đối tốt. Tính từ năm 2011 đến hết quý I năm 2020, trên địa bàn thành phố có 163 dự án đã được phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh (trong đó: 11 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 263.119 nghìn USD; 152 dự án trong nước với vốn đăng ký là 26.233 tỷ đồng).

2. Những hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, đó là:

- Công tác Quy hoạch và thực hiện quy hoạch:

+ Công tác Quy hoạch chung thành phố Hòa Bình sau sáp nhập giữa huyện Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình theo Nghị quyết số 830/NQ-CP chưa được thực hiện.

+ Công tác lập Quy hoạch chi tiết tỉ lệ phân khu còn chưa thực sự được quan tâm. Do vậy, nếu nhà đầu tư đề xuất vào vị trí đất chưa có quy hoạch đất hoặc phải điều chỉnh quy hoạch đất gặp nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian để hoàn thành được thủ tục quy hoạch xây dựng, quy hoạch đất đai làm cơ sở lập dự án đầu tư.

+ Thành phố Hòa Bình hiện đã có các khu, cụm công nghiệp được quy hoạch, tuy nhiên tình trạng thiếu đất sạch để thu hút các dự án đầu tư dẫn đến các nhà đầu tư phải thực hiện rất nhiều các thủ tục pháp lý (bổ sung vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bổ sung quy hoạch chung xây dựng; chuyển đổi đất trồng lúa…) đặc biệt là việc thỏa thuận, chuyển nhượng đất với các hộ dân, dẫn đến nhận định không tốt về môi trường đầu tư của thành phố nói riêng và của tỉnh nói chung. (Một số Khu công nghiệp trên địa bàn thành phố chậm tiến độ như Khu công nghiệp Mông Hóa; chưa được triển khai như Khu công nghiệp Yên Quang).

- Công tác giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật và công tác quản lý đất đai, đơn giá đền bù còn nhiều bất cập là nguyên nhân một số dự án chưa đáp ứng được yêu cầu tiến độ đề ra, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, xúc tiến đầu tư.

- Công tác vận động xúc tiến đầu tư:Các dự án kêu gọi đầu tư đã được UBND tỉnh đưa vào danh mục nhưng đến thời điểm hiện tại chưa có nhiều nhà đầu tư đăng ký thực hiện.

- Công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư: Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư còn chưa hấp dẫn các nhà đầu tư.

- Công tác cải cách thủ tục hành chính còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai còn rườm rà, gây mất thời gian lãng phí cho doanh nghiệp và người dân.

- Việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến trong giải quyết thủ tục hành chính hiệu quả chưa cao vì khả năng tiếp cận thông tin, trình độ, phương tiện máy móc ứng dụng công nghệ thông tin của người dân còn hạn chế. Bên cạnh đó, người dân vẫn quen với hình thức giao dịch trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của thành phố và các Ủy ban nhân dân phường, xã. Kết quả thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến của các đơn vị trong năm 2019 đã thực hiện được 169 hồ sơ. Trong đó, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thành phố là 23 hồ sơ; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả các phường, xã là 146 hồ sơ (đạt tỷ lệ thấp).

- Công tác tuyên truyền ở một số địa phương, doanh nghiệp về vai trò của doanh nhân còn chưa thường xuyên. Năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp của một số doanh nhân trong các doanh nghiệp nhỏ, lẻ và vừa trên địa bàn chưa chuyên nghiệp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, thiếu sự am hiểu pháp luật; một bộ phận doanh nhân chưa tự giác tuân thủ pháp luật, chưa tích cực tham gia công tác xã hội, chương trình vì cộng đồng, một số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh nhưng không hoạt động.

- Tình hình triển khai và vốn thực hiện của các dự án đạt thấp. Tiến độ triển khai nhiều dự án còn chậm so với đăng ký, phải đề nghị xin gia hạn tiến độ, một số dự án nhà nước đã giao đất không có khả năng đầu tư phải chuyển nhượng tài sản hoặc trả lại đất,... gây lãng phí đất đai.

- Số lượng và chất lượng lao động: Lực lượng lao động trên địa bàn thành phốtuy dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa cao, chủ yếu là lao động phổ thông. Lao động đã qua đào tạo không phù hợp, hầu hết nhà đầu tư phải đào tạo lại. Đặc biệt, ý thức, tác phong công nghiệp của lao động thấp thua nhiều địa phương khác trong cả tỉnh, gây nhiều khó khăn cho nhà đầu tư.

- Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhìn chung đối với một số doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước trên địa bàn thiếu nguyên liệu đầu vào do khan hiếm nguồn cung. Một số doanh nghiệp thực hiện phương án bố trí người lao động nghỉ luân phiên, cắt giảm nhân công do giảm sản lượng đầu ra dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng, ảnh hưởng đến đời sống của người lao động cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp đang cố gắng xoay sở để duy trì hoạt động của bộ máy, hoạt động sản xuất, kinh doanh, trả lãi ngân hàng các khoản vay trước đó. Việc yêu cầu người dân hạn chế ra ngoài, hạn chế một số loại hình kinh doanh của Chính phủ trong tình hình hiện tại của dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu, lợi nhuận và hoạt động của một số cơ sở kinh doanh trên địa bàn.

          III. ĐỀ XUẤT NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

- Trong thời gian tới, Ủy ban nhân dân thành phố tiếp tục quán triệt triển khai thực hiện Thực hiện Quyết định số 97/QD-UBND ngày 16/01/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Hòa Bình năm 2020, định hướng đến năm 2021; Kế hoạch hành động số 142/KH-UBND ngày 22/01/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh thành phố Hòa Bình năm 2020.

- Tiếp tục đẩy nhanh thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai, môi trường, xây dựng, chuyển đổi đất lâm nghiệp để các dự án sớm được triển khai, phát huy hiệu quả.

- Phối hợp với các sở, ban, ngành hỗ trợ nhà đầu tư trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; nâng cao chất lượng quy hoạch ngành, tạo thuận lợi thu hút đầu tư.

- Nâng cao trình độ, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc với doanh nghiệp.

- Tiếp tục tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành trong công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế, xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng, thân thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo sự hài lòng của doanh nghiệp, của người dân đối với các cơ quan quản lý nhà nước; tập trung thu hút các doanh nghiệp có năng lực đến đầu tư tại thành phố, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

- Phấn đấu cải thiện và tăng điểm đối với 10 chỉ số thành phần: Chi phí gia nhập thị trường, Chi phí tiếp cận đất đai, Chi phí thời gian, Chi phí không chính thức, Cạnh tranh bình đẳng, Tính năng động, Tính minh bạch, Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, Thiết chế pháp lý và An ninh trật tự, Đào tạo lao động.

IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

1. Kiến nghị với Chính phủ

- Kiến nghị với Chính phủ, Bộ, ngành liên quan sớm ban hành các Văn bản dưới Luật, Nghị định, Thông tư để quy định chi tiết, cụ thể trong công tác thẩm định năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ, tránh việc giao đất cho Nhà đầu tư yếu kém năng lực về tài chính, gây lãng phí quỹ đất.

2. Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh

- Tiếp tục chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và hỗ trợ tái định cư đến các tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Xây dựng cơ chế và bổ sung nguồn vốn cho thành phố để tạo quỹ đất sạch của các nhà đầu tư vào địa bàn thành phố đồng thời nghiên cứu xây dựng một số khu tái định cư tập trung trên địa bàn thành phố.

          - Ủy ban nhân dân tỉnh sớm ban hành quy chế quy định cụ thể về cưỡng chế, thu hồi đất khi triển khai thực hiện giải phóng mặt bằng các dự án.

          - Quan tâm hơn nữa đến công tác lập Quy hoạch chi tiết tỉ lệ phân khu, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà đầu tư khi nghiên cứu, đề xuất dự án.

          - Kịp thời rà soát, đánh giá lại năng lực thực tế của Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch của tỉnh để giao việc phù hợp, đáp ứng được yêu cầu.

Trên đây là Báo cáo chuyên đề tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2021 - 2030 lĩnh vực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; Chỉ số PCI; đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan hành chính; đầu tư theo hình thức công - tư (PPP). Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo với nội dung trên./.

 

 

 TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH - TỈNH HÒA BÌNH
Số giấy phép: 104/GP-STTTT, cấp ngày: (10/9/2015) - Chịu trách nhiệm chính:  Nguyễn Thế Dũng Phó Chủ tịch UBND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Địa chỉ: Đường Cù Chính Lan, TP Hòa Bình, Tỉnh Hòa Bình - Điện thoại: (02183.856.473) - Fax : (02183.852.258)
Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử ủy ban nhân dân thành phố Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình (http://ubndtp.hoabinh.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này. 
orjinal cialis